vpbach2768
08-01-2009, 12:47 PM
Khi Lư Thường Kiệt xác quyết "Nam quốc sơn hà...tiệt nhiên định phận tại thiên thư" (1076) th́ có thể hiểu Thiên thư là bản đồ chiêm tinh ghi rơ biên giới nước Đại Việt" Theo sách Thiên quan, từ sao Đẩu mười một độ qua sao Khiên Ngưu đến sao Chức Nữ bảy độ là tinh kỷ. Kể về sao th́ ở về ngôi Sửu ..." (trích theo Việt Sử Tiêu Án ).
Khi tiền nhân chọn đất để lập quốc th́ không những phải lựa chọn những vùng đất tốt có thể trồng trọt sinh sống, lại cần thế hiểm trở để pḥng giữ sinh tồn , phải có sông nước làm mạch, có núi non phên dậu...nhưng song song với những yếu tố vật lư nhân văn trên, cổ nhân c̣n tin tưởng vào thiên lư với Thiên, Địa và Nhân như một tổng thể, một Gestalt nói theo ngôn ngữ thời đại.
Tổng thể này bất khả phân, vận hành trong vũ trụ cùng với chu kỳ trăng sao, khi thăng khi trầm, khi thịnh khi suy. Thế nên "thiên lư tại nhân tâm" và khi tâm động th́ quỷ thần tri , tất cả là một đơn vị nhất nguyên xoay chuyển trong tam thiên đại thiên thế giới, kinh qua ngàn vạn năm, tiểu chu kỳ trong đại chu kỳ, lồng vào nhau , cùng xuyên qua diễn tŕnh thành, hoại, tiêu, trưởng của muôn loài.
Lịch sử nhân loại là lịch sử dằng co giữa Thiện và Ác, giữa Âm và Dương, ấy là NHÂN SỬ phản ánh THIÊN SỬ ghi bằng những vệt tinh đẩu nhật nguyệt. Cá nhân có tàn lụi, th́ sơn hà vẫn tồn tại, sơn hà có nghiêng đổ th́ thiên hà vẫn chói sáng ... thời gian trần thế và thời gian vũ trụ chồng lên nhau như những búp hoa, nở rồi tàn, tàn rồi nở.
Chiêm nghiệm tượng Trời để suy diễn thế cuộc, nh́n sao hôm, sao mai, sao chổi, nghe động đất núi lửa...cũng là cách t́m cái tâm vũ trụ vang trên cái tâm của cây sậy nhỏ bé uốn ḿnh trong giông băo. Đấy là nguồn của khoa học và triết lư nhân bản nhân loại Đông Tây Nam Bắc cổ xưa. Nguồn này tách ra làm hai, một ḍng đổ vào khoa học vật lư với những khám phá rực rỡ về vật chất, từ tế bào đến điện tử, một ḍng đổ vào tín ngưỡng. Ḍng trên thành vật quyền, ḍng dưới thành thần quyền, cả hai đều rời xa tâm thức uyên nguyên "thiên lư tại nhân tâm", tâm người cũng là tâm vũ trụ, soi chiếu lẫn nhau mà không đè ép.
Khi nhân hóa vũ trụ, con người có thể suy diễn rằng núi non giống như xương cốt, sông ng̣i giống như mạch máu, đất đai giống như thịt da, cây cỏ giống như lông tóc. Người có khí lực, đất có long mạch, địa linh th́ nhân kiệt, đất tốt th́ cây cỏ xanh tươi...luật quân b́nh Âm Dương áp dụng cho vạn vật, song song với ngũ hành tương khắc được phát triển sau này. Tiểu vũ trụ và đại vũ trụ, nh́n từ gốc, rất giống nhau, óc nhị biên làm con người tách khỏi thiên nhiên đưa tới t́nh trạng vong thân (aliénation) trầm trọng.
Bác học Lê Quí Đôn trong Vân Đài Loại Ngữ trích bàn theo Khổng Tử Gia Ngữ : "Người sinh ở đất dắn th́ tính t́nh cứng cỏi, sinh ở đất mềm th́ nhút nhát, sinh ở đất dắn đen th́ tính nết tỉ mỉ, sinh ở đất nở th́ đẹp đẽ, sinh ở đất thưa mỏng th́ xấu xí " và theo Hoài Nam Tử " Sinh ở đất nhẹ th́ nhanh nhẹn, sinh ở đất nặng th́ chậm chạp, ở nơi nước trong th́ tiếng nhỏ nhẹ, ở nơi nước đục th́ tiếng thô cộc...đất trung châu sinh nhiều thánh hiền".
Người dân Việt khi nói "Ăn phải nước phải cái" hoặc "đất lành chim đậu” hoặc "địa linh nhân kiệt" cũng diễn tả cái nghĩa "thiên nhân tương ứng" nói trên. Khi tổ tiên Lạc Việt định cư ở vùng châu thổ sông Hồng cách đây hơn bốn ngàn năm, tất đă nh́n đại thế chiến lược phong thủy để tính cuộc phát triển Bắc cự Nam tiến, hàm ẩn trong huyền thoại quốc đạo năm mươi con xuống biển, năm mươi con lên núi.
Muốn dân tộc đủ lực Bắc cự th́ phải nằm vào long mạch tương đương với long mạch Bắc phương Trung Hoa, muốn Nam tiến th́ phải có phong thủy khuynh loát nổi Chiêm Thành Phù Nam... Ngọc phả Hùng Vương ghi chép chuyện Lạc Long đi khắp nước (lúc đó mới vào đến Hà Tĩnh) t́m đất đóng đô, thấy 99 ngọn Hồng lĩnh tuy đẹp nhưng đất hẹp sỏi đá, sông ng̣i nông cạn ngắn ngủi, nên bỏ ra vùng trung du cao rộng.
Tới ngă ba sông Thao nước đỏ, sông Lô nước xanh quấn quanh ba ngọn núi đột ngột nhô cao như đầu rồng là núi Hùng, núi Trọc, núi Vặn, xếp hàng chầu về linh địa có 99 ngọn đồi như 99 thớt voi từ Phú Lộc đến Thậm Th́nh, lại thêm vài chục quả đồi thấp hơn như đàn rùa từ Việt Tŕ ḅ lên, địa thế vừa đẹp như tranh vẽ, vừa phát nở dài rộng, vua Hùng vừa ư chọn làm quốc đô.
Nh́n địa thế của nước Việt cổ tuy nhỏ bé hơn Trung Hoa, nhưng thế sông núi xắp đặt không kém khí lực : các dẫy núi h́nh nan quạt tụ về đỉnh tam giác châu thổ sông Hồng, đỉnh này là khoảng Việt Tŕ Tam Đảo, xuống dưới nữa là Thăng Long sau này, cánh tay trái vươn lên Yên Tử Hạ Long, cánh tay phải đặt xuống vùng đá vôi Hoa Lư , Ninh B́nh, Thanh Hóa. Hai con sông lớn làm mạch máu của đất nước là:
- Sông Hồng dài 1200 cây số, phát tích từ 18 con sông ở Đại Lư tức Vân Nam rót vào, ṿng quanh 200 dặm quấn tṛn như tai người nên gọi là Nhĩ Hà. Nhưng v́ ḷng nước dữ dội, phù sa đỏ, gây lụt lội nên cũng không phải là đất lành như Phật địa Cửu Long giang.
- Sông Đà c̣n gọi là Hắc giang hay sông Bờ, dài 850 cây số, cũng phát tự Vân Nam là chi hữu ngạn của sông Hồng. Chạy dài theo sông Đà là dẫy Hoàng Liên Sơn với đỉnh cao nhất hơn 3142 mét, ḍng sông có nhiều thác nước khí lực rất mạnh, cùng với núi Ba V́ kết thành đại địa hữu hổ.
Các mạch Sông Hồng, Sông Mă, đều chảy theo hướng Đông Nam thuộc cung Th́n là Long cung, nên các ḍng sông ở vị thế "long cư long vị", rồng ở tổ rồng, khí lực rất mạnh mẽ lâu dài.
Đặc biệt sông và núi, âm và dương, đi song song với nhau, khiến thế quân b́nh của khí mạch được sinh động. Cả vùng đất cổ Việt có rất nhiều địa h́nh kết tụ long mạch nếu theo lư phong thủy nơi linh khí kết tụ là các ngả sông hội lại như vùng Việt Tŕ , vùng sông Lục Đầu, vùng Tuyên Quang, Lai Châu... có từ 3 tới 6 mạch nước hội tụ tăng cường khí mạch hưng phát. (h́nh 1)Tam Giác Đại Địa: Tam Đảo - Ba V́ - Thăng Long.
Cổ thư nước Hàn khi bàn về phong thủy trong việc chọn đất định cư cũng chú trọng tới 4 điểm : mạch nước, thế đất, h́nh núi và mầu sắc đất. Đất và núi phải toát ra sinh khí, đất phải rộng nhưng kín và có mạch nước , mạch nước mở rộng quá bị thoát khí nên cửa sông cần vừa phải.
Đất rộng sinh đại nhân, có đồi bao quanh h́nh bán nguyệt lại càng quí. Đất có sông lạch đâm thẳng vào như mũi tên phải tránh, đất nằm ép giữa núi như đất thung lũng có âm khí, ban ngày có sương mù, mặt trời lên muộn, lặn sớm, nhất định không phải đất làm nhà, dựng đô. Đồi núi lớp lớp bao quanh, nên cúi chầu về hơn là dựng đứng như đe dọa... (Y Chung Hwan' s T'aengniji- University of Sydney).
Xem như thế, đại địa Phong Châu, Luy Lâu (vùng Hà Bắc), Đại La Thăng Long hội hợp đủ các ưu điểm để làm đất dựng đô, riêng đất Phong Châu bên tả sông Hồng (tả long) làm đất tổ Hùng Vương quả là quí địa trường thế, khí sắc sinh động, thảo mộc tươi nhuận, đất cao rộng mà có núi, đồi, sông, mấy lớp quấn quít chầu bái, đất này khi dấy phát có thể qui phục thiên hạ, ngang ngửa với đất Hoàng Hà, Dương Tử, Tần Lĩnh, Sơn đông, Côn Lôn của Hán tộc.
Sau đời Vua Hùng, thủ đô rời xuống Cổ Loa (220 trước Tây lịch) măi tới đời Ngô Quyền (939) Cổ Loa vẫn là trung tâm đất nước. Trong những thế kỷ thuộc Hán, vùng Luy Lâu (phủ Thuận Thành, Hà Bắc) trở thành khu vực văn hóa quan trọng nhất (Sĩ Nhiếp và các trị sở từ thế kỷ thứ II). Bạch Hạc Việt Tŕ - Cổ Loa - Luy Lâu (có thể thành Long Biên cũng thuộc Luy Lâu) đều nằm ở tay trái sông Hồng (nếu nh́n từ Bắc xuống), Việt Tŕ trên cao, Cổ Loa, Luy Lâu xuống thấp hơn nhưng vẫn ở đỉnh delta châu thổ sông Hồng và chỉ cách Hà Nội 15- 25 cây số, nghĩa là vẫn một địa h́nh phong thủy.
Có lẽ khi quân Nam Chiếu chiếm Giao châu thành Đại La mới được xây cất hoặc tu bổ (đầu thế kỷ IX) bên tay phải sông Hồng, như vậy pḥng ngự vững hơn v́ giặc muốn vây thành phải qua sông. Khi Cao Biền dẹp được quân Nam Chiếu (865), cho đắp thành Đại La cao rộng hơn nhiều, sau này thành Thăng Long do sư Vạn Hạnh thiết kế cũng nằm ở khu vực Đại La.
Cao Biền vừa làm tướng vừa là nhà phong thủy nên việc lựa chọn Đại La làm trị sở phải vừa mang lợi điểm chiến lược, vừa mang ưu thế phong thủy. Đất Đại La- Thăng Long bên bờ sông Hồng lại có sông Tô Lịch bao quanh (Cao Biền cho khơi lại sông Tô Lịch), lấy Tây Hồ làm năo bộ, mạn xa một bên ba ngọn Tản Viên, một bên ba ngọn Tam Đảo, đều làm án bảo vệ kinh thành, sau này núi Nùng được đắp lên trong khu hoàng thành với mục đích tụ khí mạch, nhưng cũng có người cho tên núi Nùng là núi Tản Viên.
Linh khí phong thủy năo bộ Thăng Long tại Hồ Tây theo sách Địa lư Cao Biền, có đủ Thanh long Bạch hổ kết phát Nơi đây Thánh Mẫu Liễu Hạnh từng hiển linh, Lạc Long Quân diệt Hồ tinh chín đuôi. Phía xa là ba ngọn Tản Viên, tổ sơn làm án che kinh đô. (trích theo Huard)
Khi Hoàng Phúc theo quân Minh sang cũng phải nhận đấy là thế đất "La thành bất loạn". Quốc đô Thăng Long thế đất " Phượng chủy, long bàn " tức mỏ phượng ḿnh rồng, có thành hoàng Bạch Mă tức thần núi Nùng (núi Long Đỗ) phù trợ, tương truyền núi có khe thông xuống đất sâu tiếp nhận khí thiêng trời đất hội tụ, cung điện nhà Lư được xây trên núi này.
Đời Đinh, Tiền Lê, lấy quê hương Hoa Lư làm kinh đô chỉ kéo dài được hơn 40 năm ngắn ngủi (968 - 1010) v́ Hoa Lư tuy có núi non vây bọc xếp đặt như thành quách, nhưng Hoa Lư không ở giữa khu vực sinh hoạt trọng tâm dân tộc, đất hẹp, gọi là đất sơn cùng thủy tận, không thể lâu dài.
Từ vùng phong thủy Mă-Hồng-Đà, có hướng sông, núi và châu thổ xếp đặt giống nhau, có quân b́nh âm dương đều đặn, phát huy được văn hóa Trung đạo nhân bản, vào tới miền Nghệ An, Hà Tĩnh lại bắt đầu một khối phong thủy khác.
Khí lực Trường sơn bắt đầu với 99 ngọn núi Hồng Lĩnh, kéo dài từ Nghệ An đến Đồng Hới là chặng đầu, chặng này vẫn tiếp tục mạch núi từ miền Bắc bộ nhưng mạch sông như sông Lam (Nghệ An) dài 600 cây số phát từ Lào chẩy ra gần biển hướng lên Đông Bắc, đất hẹp. Miền này núi đá với nhiều đỉnh cao khoảng 1500 mét , Hồng lĩnh 99 ngọn, là đại địa kết phát hùng khí, bị chiết giảm trường thế v́ đất hẹp và sông nông mạch ngắn.
Ngay từ Thanh Hóa cũng đă là thế đất "cuối sông đầu núi, nhỏ hẹp, thấp trũng", nơi ấy trong Dư Địa Chí , Lư thị bàn "khi loạn ở th́ thích hợp, khi trị ở th́ không thích hợp ... Ở Nghệ An ḷng người hung hăn hơn người Châu Ái ..." Khi Hồ Quí Ly xây Tây Đô tại Thanh Hóa (1396) Vương
Nhữ Thuyết liền can gián "bên phải bên trái núi đá sát kề, sông Mă sông Lương hợp lưu phía trước" không phải là đất lập đô.
Bắt đầu từ Nghệ An mầu đất đỏ và đen v́ lớp nham thạch hỏa diệm sơn cổ đại, dấu tích này c̣n ở Nghệ An, Đồng Hới, Quảng Trị, Qui Nhơn, Khánh Ḥa và nhất là miền Pleiku với cả trăm miệng núi lửa.
Miền này như vậy có hỏa khí, chịu nhiều tai họa, cả thiên tai lẫn binh lửa, bị yêu khí trấn ám. Dân gian có câu " Cọp Khánh Ḥa, ma B́nh Thuận", núi nhiều ác thú, rừng tụ ma khí từ thời Chiêm Thành, Chân Lạp, nên vượng khí bị chiết giảm.
Từ Đồng Hới đến Tuy Ḥa có những rặng núi cao, hướng núi chạy ngang (hoành sơn) ra biển, khi Trạng Tŕnh chỉ cho Nguyễn Hoàng vào "Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân" hẳn đă biết phong thủy vùng này, về chiến lược th́ đèo cao hiểm trở, dễ pḥng ngự, về khí mạch có nhiều huyệt quí.
Bác học Lê Quí Đôn ghi theo Minh Sử : "Thuận Hóa, Quảng Nam, Chiêm Thành làm tay hổ viễn án, c̣n Nam hải lại là một đại minh đường ngoài cửa quốc đô, mạch lạc hùng viễn, h́nh thể bao la, thực là chỗ vương kinh thiên phủ" (VĐLN tr. 150).
Tuy đấy là nhận xét của người Trung Hoa từ Quảng Đông Quảng Tây nh́n xuống Nam Hải của ta mà biện luận, nhưng về phương diện đại thế phong thủy th́ vẫn đúng và là một tài liệu hiếm hoi về địa lư vùng này. Phía tây Huế và Quảng Nam là rặng núi cao tới 1800 mét (Atouat), mặt Đông có Ngũ Hành Sơn và đá quí, nên đă là đất hưng phát nhiều thời từ Lâm Ấp - Chiêm Thành tới triều Nguyễn.
Trà Kiệu (Simhapura) kinh đô Chàm và Văn hóa Sa Huỳnh đă từng kết tụ rực rỡ nơi đây cả bao thế kỷ. Đất Thiên Mụ với g̣ đất nổi cao như đầu rồng ngoảnh lại bên bờ sông Hương, là địa linh có Bà Tiên (Thánh Mẫu) mặc áo đỏ quần xanh báo mộng cho Chúa Nguyễn biết để lập Chùa dựng trại (1601).
Đất này trước khi thành đất Thần kinh Huế cũng đă là trung tâm của nước Lâm Ấp (Chiêm Thành), hiềm v́ mưa nhiều, ngũ hành âm dương bất quân, nên không thể thịnh phát lâu đời.
Đất Trường Sơn, núi cao, đất hẹp, long mạch có thể kết ngoài cù lao.
Từ Tuy Ḥa tới cao nguyên Đà Lạt là vùng đất nở rộng của Nam Trường Sơn, đất đỏ v́ núi lửa cổ đại tạo ra, sông nông mạch ngắn.
Suốt dọc Trường Sơn núi dốc thẳng phía biển, thoai thoải phía Lào, sông chẩy giữa thung lũng hẹp, nhiều thác, chảy ra biển Đông mà không có sông nào dài bắt vào Cửu Long. Xét về phong thủy là đất âm, độc khí, không có trường mạch, hùng khí của núi cao không đủ quân b́nh với đất hẹp và sông ngắn.
Riêng miền Cao nguyên đất nở rộng, có thể ẩn tàng những đại địa như đất Tây Sơn mà Lê Quí Đôn đă nhận thấy khi vào trấn thủ Thuận Hóa (1775).
Sau khí mạch Trường Sơn, đất nước lại mở ra một đại địa mới với trường giang Cửu Long làm chủ mạch.
Sông Cửu Long dài 4180 cây số, là một trong những con sông dài nhất thế giới, chẩy qua Lào, Miên, Việt 2700 cây. Cùng với Hoàng Hà và Dương Tử Giang, sông Cửu cũng phát nguyên từ cao nguyên Tây Tạng, mang lại cho Đông dương một khí mạch tương dương với Trung Hoa.
Điểm đặc biệt của ḍng sông này là đổ ra biển theo hướng Đông Nam (giống sông Missippsippi của Hoa Kỳ), cung Th́n, tượng trưng là rồng, v́ thế cổ nhân gọi là Long và Cửu là cực số thành tượng trưng mức tiến hóa cao tột huyền diệu (không có nghĩa là 9 cửa sông), Cửu Long từ xưa đă được nh́n bằng nhăn quan phong thủy mà đặt tên tất là trường mạch đầy khí lực của Đông Nam Á.
Miền núi Tây Ninh (900 m) làm tay long, miền núi Thất Sơn làm tay hổ , tại hai nơi này chấn phát lên hai giáo phái lớn. Núi Tây Ninh đột ngột nổi lên giữa đất rộng phẳng, có khí thế giống Tản Viên, Tam Đảo, Núi Hùng ở miền Bắc, có thể là huyệt kết của tả ngạn Cửu Long.
Đất Saigon Gia Định nằm giữa 4 con sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây, Sông Saigon, Sông Đồng Nai, bốn ḍng sông này chẩy ra biển Đông như một ṿng cung từ Vũng Tầu tới G̣ Công, là đất kết phát.
Nh́n chung, ưu điểm phong thủy địa lư miền Nam là sông dài, rộng, đất phẳng, triển nở sinh lực, cây cỏ tươi nhuận, nên là đất lành ít tai ương binh lửa, gọi là Phật địa cũng không ngoa. V́ sông nước êm đềm, núi thấp, nên âm thịnh, vùng G̣ Công (đất Giồng Sơn qui) đă là đất phát vương hậu triều Nguyễn.
Nếu nh́n rộng lên đất Miên, thủ đô Nam Vang nằm chính giữa ngă tư hai ḍng sông lớn hội về là sông Cửu, sông Bassac, phía Bắc có Biển Hổ mênh mông với đại điểm Angkor Thom, Angkor Vat ở tả ngạn, khí mạch ở đây lớn mạnh không thua kém miền Nam Việt Nam, lại có thể có huyệt kết tả long hữu hổ hai bờ Biển Hồ. Tuy vậy rặng núi cao nhất cũng chỉ tới 1200 m. như núi Voi gần Phú Quốc, Hà Tiên, nên khí thế không bằng đại địa quân b́nh âm dương Việt Tŕ Hồng Hà.
Chính ở đại địa long mạch Cửu Long mà hai ngàn năm trước đă phát khởi lên cường quốc Phù Nam, là cường quốc đầu tiên ở Đông Nam Á, lan rộng tới Lào, Quảng Nam về phương Bắc, bao cả miền Nam Việt Nam và Cao Miên bây giờ, lan sang Mă Lai ngày nay. Kế tiếp vương quốc Chân Lạp bành trướng lên tới Nam Chiếu, Hạ Lào, ngang ra biển Đông cũng là một vương quốc lớn mạnh một thời.
Nền văn hóa Óc Eo, Angkor, mang dấu tích đế quốc Phù Nam, không thua sút văn hóa Trống Đồng của Việt Nam. Tuy Phù Nam suy tàn từ thế kỷ VI, Chân Lạp suy tàn từ thế kỷ XV, nhưng khí lực Cửu Long rất hùng viễn mạch trường thiên kỷ, nên đại địa này c̣n có chu kỳ hưng phát tương lai. So sánh với Đại Việt, cường quốc Phù Nam và Chân Lạp lúc thịnh thời có thể rộng lớn và qui phục nhiều tiểu quốc hơn. Đấy là nhờ khí lực long mạch Cửu Long đem lại.
Sưu tầm
Khi tiền nhân chọn đất để lập quốc th́ không những phải lựa chọn những vùng đất tốt có thể trồng trọt sinh sống, lại cần thế hiểm trở để pḥng giữ sinh tồn , phải có sông nước làm mạch, có núi non phên dậu...nhưng song song với những yếu tố vật lư nhân văn trên, cổ nhân c̣n tin tưởng vào thiên lư với Thiên, Địa và Nhân như một tổng thể, một Gestalt nói theo ngôn ngữ thời đại.
Tổng thể này bất khả phân, vận hành trong vũ trụ cùng với chu kỳ trăng sao, khi thăng khi trầm, khi thịnh khi suy. Thế nên "thiên lư tại nhân tâm" và khi tâm động th́ quỷ thần tri , tất cả là một đơn vị nhất nguyên xoay chuyển trong tam thiên đại thiên thế giới, kinh qua ngàn vạn năm, tiểu chu kỳ trong đại chu kỳ, lồng vào nhau , cùng xuyên qua diễn tŕnh thành, hoại, tiêu, trưởng của muôn loài.
Lịch sử nhân loại là lịch sử dằng co giữa Thiện và Ác, giữa Âm và Dương, ấy là NHÂN SỬ phản ánh THIÊN SỬ ghi bằng những vệt tinh đẩu nhật nguyệt. Cá nhân có tàn lụi, th́ sơn hà vẫn tồn tại, sơn hà có nghiêng đổ th́ thiên hà vẫn chói sáng ... thời gian trần thế và thời gian vũ trụ chồng lên nhau như những búp hoa, nở rồi tàn, tàn rồi nở.
Chiêm nghiệm tượng Trời để suy diễn thế cuộc, nh́n sao hôm, sao mai, sao chổi, nghe động đất núi lửa...cũng là cách t́m cái tâm vũ trụ vang trên cái tâm của cây sậy nhỏ bé uốn ḿnh trong giông băo. Đấy là nguồn của khoa học và triết lư nhân bản nhân loại Đông Tây Nam Bắc cổ xưa. Nguồn này tách ra làm hai, một ḍng đổ vào khoa học vật lư với những khám phá rực rỡ về vật chất, từ tế bào đến điện tử, một ḍng đổ vào tín ngưỡng. Ḍng trên thành vật quyền, ḍng dưới thành thần quyền, cả hai đều rời xa tâm thức uyên nguyên "thiên lư tại nhân tâm", tâm người cũng là tâm vũ trụ, soi chiếu lẫn nhau mà không đè ép.
Khi nhân hóa vũ trụ, con người có thể suy diễn rằng núi non giống như xương cốt, sông ng̣i giống như mạch máu, đất đai giống như thịt da, cây cỏ giống như lông tóc. Người có khí lực, đất có long mạch, địa linh th́ nhân kiệt, đất tốt th́ cây cỏ xanh tươi...luật quân b́nh Âm Dương áp dụng cho vạn vật, song song với ngũ hành tương khắc được phát triển sau này. Tiểu vũ trụ và đại vũ trụ, nh́n từ gốc, rất giống nhau, óc nhị biên làm con người tách khỏi thiên nhiên đưa tới t́nh trạng vong thân (aliénation) trầm trọng.
Bác học Lê Quí Đôn trong Vân Đài Loại Ngữ trích bàn theo Khổng Tử Gia Ngữ : "Người sinh ở đất dắn th́ tính t́nh cứng cỏi, sinh ở đất mềm th́ nhút nhát, sinh ở đất dắn đen th́ tính nết tỉ mỉ, sinh ở đất nở th́ đẹp đẽ, sinh ở đất thưa mỏng th́ xấu xí " và theo Hoài Nam Tử " Sinh ở đất nhẹ th́ nhanh nhẹn, sinh ở đất nặng th́ chậm chạp, ở nơi nước trong th́ tiếng nhỏ nhẹ, ở nơi nước đục th́ tiếng thô cộc...đất trung châu sinh nhiều thánh hiền".
Người dân Việt khi nói "Ăn phải nước phải cái" hoặc "đất lành chim đậu” hoặc "địa linh nhân kiệt" cũng diễn tả cái nghĩa "thiên nhân tương ứng" nói trên. Khi tổ tiên Lạc Việt định cư ở vùng châu thổ sông Hồng cách đây hơn bốn ngàn năm, tất đă nh́n đại thế chiến lược phong thủy để tính cuộc phát triển Bắc cự Nam tiến, hàm ẩn trong huyền thoại quốc đạo năm mươi con xuống biển, năm mươi con lên núi.
Muốn dân tộc đủ lực Bắc cự th́ phải nằm vào long mạch tương đương với long mạch Bắc phương Trung Hoa, muốn Nam tiến th́ phải có phong thủy khuynh loát nổi Chiêm Thành Phù Nam... Ngọc phả Hùng Vương ghi chép chuyện Lạc Long đi khắp nước (lúc đó mới vào đến Hà Tĩnh) t́m đất đóng đô, thấy 99 ngọn Hồng lĩnh tuy đẹp nhưng đất hẹp sỏi đá, sông ng̣i nông cạn ngắn ngủi, nên bỏ ra vùng trung du cao rộng.
Tới ngă ba sông Thao nước đỏ, sông Lô nước xanh quấn quanh ba ngọn núi đột ngột nhô cao như đầu rồng là núi Hùng, núi Trọc, núi Vặn, xếp hàng chầu về linh địa có 99 ngọn đồi như 99 thớt voi từ Phú Lộc đến Thậm Th́nh, lại thêm vài chục quả đồi thấp hơn như đàn rùa từ Việt Tŕ ḅ lên, địa thế vừa đẹp như tranh vẽ, vừa phát nở dài rộng, vua Hùng vừa ư chọn làm quốc đô.
Nh́n địa thế của nước Việt cổ tuy nhỏ bé hơn Trung Hoa, nhưng thế sông núi xắp đặt không kém khí lực : các dẫy núi h́nh nan quạt tụ về đỉnh tam giác châu thổ sông Hồng, đỉnh này là khoảng Việt Tŕ Tam Đảo, xuống dưới nữa là Thăng Long sau này, cánh tay trái vươn lên Yên Tử Hạ Long, cánh tay phải đặt xuống vùng đá vôi Hoa Lư , Ninh B́nh, Thanh Hóa. Hai con sông lớn làm mạch máu của đất nước là:
- Sông Hồng dài 1200 cây số, phát tích từ 18 con sông ở Đại Lư tức Vân Nam rót vào, ṿng quanh 200 dặm quấn tṛn như tai người nên gọi là Nhĩ Hà. Nhưng v́ ḷng nước dữ dội, phù sa đỏ, gây lụt lội nên cũng không phải là đất lành như Phật địa Cửu Long giang.
- Sông Đà c̣n gọi là Hắc giang hay sông Bờ, dài 850 cây số, cũng phát tự Vân Nam là chi hữu ngạn của sông Hồng. Chạy dài theo sông Đà là dẫy Hoàng Liên Sơn với đỉnh cao nhất hơn 3142 mét, ḍng sông có nhiều thác nước khí lực rất mạnh, cùng với núi Ba V́ kết thành đại địa hữu hổ.
Các mạch Sông Hồng, Sông Mă, đều chảy theo hướng Đông Nam thuộc cung Th́n là Long cung, nên các ḍng sông ở vị thế "long cư long vị", rồng ở tổ rồng, khí lực rất mạnh mẽ lâu dài.
Đặc biệt sông và núi, âm và dương, đi song song với nhau, khiến thế quân b́nh của khí mạch được sinh động. Cả vùng đất cổ Việt có rất nhiều địa h́nh kết tụ long mạch nếu theo lư phong thủy nơi linh khí kết tụ là các ngả sông hội lại như vùng Việt Tŕ , vùng sông Lục Đầu, vùng Tuyên Quang, Lai Châu... có từ 3 tới 6 mạch nước hội tụ tăng cường khí mạch hưng phát. (h́nh 1)Tam Giác Đại Địa: Tam Đảo - Ba V́ - Thăng Long.
Cổ thư nước Hàn khi bàn về phong thủy trong việc chọn đất định cư cũng chú trọng tới 4 điểm : mạch nước, thế đất, h́nh núi và mầu sắc đất. Đất và núi phải toát ra sinh khí, đất phải rộng nhưng kín và có mạch nước , mạch nước mở rộng quá bị thoát khí nên cửa sông cần vừa phải.
Đất rộng sinh đại nhân, có đồi bao quanh h́nh bán nguyệt lại càng quí. Đất có sông lạch đâm thẳng vào như mũi tên phải tránh, đất nằm ép giữa núi như đất thung lũng có âm khí, ban ngày có sương mù, mặt trời lên muộn, lặn sớm, nhất định không phải đất làm nhà, dựng đô. Đồi núi lớp lớp bao quanh, nên cúi chầu về hơn là dựng đứng như đe dọa... (Y Chung Hwan' s T'aengniji- University of Sydney).
Xem như thế, đại địa Phong Châu, Luy Lâu (vùng Hà Bắc), Đại La Thăng Long hội hợp đủ các ưu điểm để làm đất dựng đô, riêng đất Phong Châu bên tả sông Hồng (tả long) làm đất tổ Hùng Vương quả là quí địa trường thế, khí sắc sinh động, thảo mộc tươi nhuận, đất cao rộng mà có núi, đồi, sông, mấy lớp quấn quít chầu bái, đất này khi dấy phát có thể qui phục thiên hạ, ngang ngửa với đất Hoàng Hà, Dương Tử, Tần Lĩnh, Sơn đông, Côn Lôn của Hán tộc.
Sau đời Vua Hùng, thủ đô rời xuống Cổ Loa (220 trước Tây lịch) măi tới đời Ngô Quyền (939) Cổ Loa vẫn là trung tâm đất nước. Trong những thế kỷ thuộc Hán, vùng Luy Lâu (phủ Thuận Thành, Hà Bắc) trở thành khu vực văn hóa quan trọng nhất (Sĩ Nhiếp và các trị sở từ thế kỷ thứ II). Bạch Hạc Việt Tŕ - Cổ Loa - Luy Lâu (có thể thành Long Biên cũng thuộc Luy Lâu) đều nằm ở tay trái sông Hồng (nếu nh́n từ Bắc xuống), Việt Tŕ trên cao, Cổ Loa, Luy Lâu xuống thấp hơn nhưng vẫn ở đỉnh delta châu thổ sông Hồng và chỉ cách Hà Nội 15- 25 cây số, nghĩa là vẫn một địa h́nh phong thủy.
Có lẽ khi quân Nam Chiếu chiếm Giao châu thành Đại La mới được xây cất hoặc tu bổ (đầu thế kỷ IX) bên tay phải sông Hồng, như vậy pḥng ngự vững hơn v́ giặc muốn vây thành phải qua sông. Khi Cao Biền dẹp được quân Nam Chiếu (865), cho đắp thành Đại La cao rộng hơn nhiều, sau này thành Thăng Long do sư Vạn Hạnh thiết kế cũng nằm ở khu vực Đại La.
Cao Biền vừa làm tướng vừa là nhà phong thủy nên việc lựa chọn Đại La làm trị sở phải vừa mang lợi điểm chiến lược, vừa mang ưu thế phong thủy. Đất Đại La- Thăng Long bên bờ sông Hồng lại có sông Tô Lịch bao quanh (Cao Biền cho khơi lại sông Tô Lịch), lấy Tây Hồ làm năo bộ, mạn xa một bên ba ngọn Tản Viên, một bên ba ngọn Tam Đảo, đều làm án bảo vệ kinh thành, sau này núi Nùng được đắp lên trong khu hoàng thành với mục đích tụ khí mạch, nhưng cũng có người cho tên núi Nùng là núi Tản Viên.
Linh khí phong thủy năo bộ Thăng Long tại Hồ Tây theo sách Địa lư Cao Biền, có đủ Thanh long Bạch hổ kết phát Nơi đây Thánh Mẫu Liễu Hạnh từng hiển linh, Lạc Long Quân diệt Hồ tinh chín đuôi. Phía xa là ba ngọn Tản Viên, tổ sơn làm án che kinh đô. (trích theo Huard)
Khi Hoàng Phúc theo quân Minh sang cũng phải nhận đấy là thế đất "La thành bất loạn". Quốc đô Thăng Long thế đất " Phượng chủy, long bàn " tức mỏ phượng ḿnh rồng, có thành hoàng Bạch Mă tức thần núi Nùng (núi Long Đỗ) phù trợ, tương truyền núi có khe thông xuống đất sâu tiếp nhận khí thiêng trời đất hội tụ, cung điện nhà Lư được xây trên núi này.
Đời Đinh, Tiền Lê, lấy quê hương Hoa Lư làm kinh đô chỉ kéo dài được hơn 40 năm ngắn ngủi (968 - 1010) v́ Hoa Lư tuy có núi non vây bọc xếp đặt như thành quách, nhưng Hoa Lư không ở giữa khu vực sinh hoạt trọng tâm dân tộc, đất hẹp, gọi là đất sơn cùng thủy tận, không thể lâu dài.
Từ vùng phong thủy Mă-Hồng-Đà, có hướng sông, núi và châu thổ xếp đặt giống nhau, có quân b́nh âm dương đều đặn, phát huy được văn hóa Trung đạo nhân bản, vào tới miền Nghệ An, Hà Tĩnh lại bắt đầu một khối phong thủy khác.
Khí lực Trường sơn bắt đầu với 99 ngọn núi Hồng Lĩnh, kéo dài từ Nghệ An đến Đồng Hới là chặng đầu, chặng này vẫn tiếp tục mạch núi từ miền Bắc bộ nhưng mạch sông như sông Lam (Nghệ An) dài 600 cây số phát từ Lào chẩy ra gần biển hướng lên Đông Bắc, đất hẹp. Miền này núi đá với nhiều đỉnh cao khoảng 1500 mét , Hồng lĩnh 99 ngọn, là đại địa kết phát hùng khí, bị chiết giảm trường thế v́ đất hẹp và sông nông mạch ngắn.
Ngay từ Thanh Hóa cũng đă là thế đất "cuối sông đầu núi, nhỏ hẹp, thấp trũng", nơi ấy trong Dư Địa Chí , Lư thị bàn "khi loạn ở th́ thích hợp, khi trị ở th́ không thích hợp ... Ở Nghệ An ḷng người hung hăn hơn người Châu Ái ..." Khi Hồ Quí Ly xây Tây Đô tại Thanh Hóa (1396) Vương
Nhữ Thuyết liền can gián "bên phải bên trái núi đá sát kề, sông Mă sông Lương hợp lưu phía trước" không phải là đất lập đô.
Bắt đầu từ Nghệ An mầu đất đỏ và đen v́ lớp nham thạch hỏa diệm sơn cổ đại, dấu tích này c̣n ở Nghệ An, Đồng Hới, Quảng Trị, Qui Nhơn, Khánh Ḥa và nhất là miền Pleiku với cả trăm miệng núi lửa.
Miền này như vậy có hỏa khí, chịu nhiều tai họa, cả thiên tai lẫn binh lửa, bị yêu khí trấn ám. Dân gian có câu " Cọp Khánh Ḥa, ma B́nh Thuận", núi nhiều ác thú, rừng tụ ma khí từ thời Chiêm Thành, Chân Lạp, nên vượng khí bị chiết giảm.
Từ Đồng Hới đến Tuy Ḥa có những rặng núi cao, hướng núi chạy ngang (hoành sơn) ra biển, khi Trạng Tŕnh chỉ cho Nguyễn Hoàng vào "Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân" hẳn đă biết phong thủy vùng này, về chiến lược th́ đèo cao hiểm trở, dễ pḥng ngự, về khí mạch có nhiều huyệt quí.
Bác học Lê Quí Đôn ghi theo Minh Sử : "Thuận Hóa, Quảng Nam, Chiêm Thành làm tay hổ viễn án, c̣n Nam hải lại là một đại minh đường ngoài cửa quốc đô, mạch lạc hùng viễn, h́nh thể bao la, thực là chỗ vương kinh thiên phủ" (VĐLN tr. 150).
Tuy đấy là nhận xét của người Trung Hoa từ Quảng Đông Quảng Tây nh́n xuống Nam Hải của ta mà biện luận, nhưng về phương diện đại thế phong thủy th́ vẫn đúng và là một tài liệu hiếm hoi về địa lư vùng này. Phía tây Huế và Quảng Nam là rặng núi cao tới 1800 mét (Atouat), mặt Đông có Ngũ Hành Sơn và đá quí, nên đă là đất hưng phát nhiều thời từ Lâm Ấp - Chiêm Thành tới triều Nguyễn.
Trà Kiệu (Simhapura) kinh đô Chàm và Văn hóa Sa Huỳnh đă từng kết tụ rực rỡ nơi đây cả bao thế kỷ. Đất Thiên Mụ với g̣ đất nổi cao như đầu rồng ngoảnh lại bên bờ sông Hương, là địa linh có Bà Tiên (Thánh Mẫu) mặc áo đỏ quần xanh báo mộng cho Chúa Nguyễn biết để lập Chùa dựng trại (1601).
Đất này trước khi thành đất Thần kinh Huế cũng đă là trung tâm của nước Lâm Ấp (Chiêm Thành), hiềm v́ mưa nhiều, ngũ hành âm dương bất quân, nên không thể thịnh phát lâu đời.
Đất Trường Sơn, núi cao, đất hẹp, long mạch có thể kết ngoài cù lao.
Từ Tuy Ḥa tới cao nguyên Đà Lạt là vùng đất nở rộng của Nam Trường Sơn, đất đỏ v́ núi lửa cổ đại tạo ra, sông nông mạch ngắn.
Suốt dọc Trường Sơn núi dốc thẳng phía biển, thoai thoải phía Lào, sông chẩy giữa thung lũng hẹp, nhiều thác, chảy ra biển Đông mà không có sông nào dài bắt vào Cửu Long. Xét về phong thủy là đất âm, độc khí, không có trường mạch, hùng khí của núi cao không đủ quân b́nh với đất hẹp và sông ngắn.
Riêng miền Cao nguyên đất nở rộng, có thể ẩn tàng những đại địa như đất Tây Sơn mà Lê Quí Đôn đă nhận thấy khi vào trấn thủ Thuận Hóa (1775).
Sau khí mạch Trường Sơn, đất nước lại mở ra một đại địa mới với trường giang Cửu Long làm chủ mạch.
Sông Cửu Long dài 4180 cây số, là một trong những con sông dài nhất thế giới, chẩy qua Lào, Miên, Việt 2700 cây. Cùng với Hoàng Hà và Dương Tử Giang, sông Cửu cũng phát nguyên từ cao nguyên Tây Tạng, mang lại cho Đông dương một khí mạch tương dương với Trung Hoa.
Điểm đặc biệt của ḍng sông này là đổ ra biển theo hướng Đông Nam (giống sông Missippsippi của Hoa Kỳ), cung Th́n, tượng trưng là rồng, v́ thế cổ nhân gọi là Long và Cửu là cực số thành tượng trưng mức tiến hóa cao tột huyền diệu (không có nghĩa là 9 cửa sông), Cửu Long từ xưa đă được nh́n bằng nhăn quan phong thủy mà đặt tên tất là trường mạch đầy khí lực của Đông Nam Á.
Miền núi Tây Ninh (900 m) làm tay long, miền núi Thất Sơn làm tay hổ , tại hai nơi này chấn phát lên hai giáo phái lớn. Núi Tây Ninh đột ngột nổi lên giữa đất rộng phẳng, có khí thế giống Tản Viên, Tam Đảo, Núi Hùng ở miền Bắc, có thể là huyệt kết của tả ngạn Cửu Long.
Đất Saigon Gia Định nằm giữa 4 con sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây, Sông Saigon, Sông Đồng Nai, bốn ḍng sông này chẩy ra biển Đông như một ṿng cung từ Vũng Tầu tới G̣ Công, là đất kết phát.
Nh́n chung, ưu điểm phong thủy địa lư miền Nam là sông dài, rộng, đất phẳng, triển nở sinh lực, cây cỏ tươi nhuận, nên là đất lành ít tai ương binh lửa, gọi là Phật địa cũng không ngoa. V́ sông nước êm đềm, núi thấp, nên âm thịnh, vùng G̣ Công (đất Giồng Sơn qui) đă là đất phát vương hậu triều Nguyễn.
Nếu nh́n rộng lên đất Miên, thủ đô Nam Vang nằm chính giữa ngă tư hai ḍng sông lớn hội về là sông Cửu, sông Bassac, phía Bắc có Biển Hổ mênh mông với đại điểm Angkor Thom, Angkor Vat ở tả ngạn, khí mạch ở đây lớn mạnh không thua kém miền Nam Việt Nam, lại có thể có huyệt kết tả long hữu hổ hai bờ Biển Hồ. Tuy vậy rặng núi cao nhất cũng chỉ tới 1200 m. như núi Voi gần Phú Quốc, Hà Tiên, nên khí thế không bằng đại địa quân b́nh âm dương Việt Tŕ Hồng Hà.
Chính ở đại địa long mạch Cửu Long mà hai ngàn năm trước đă phát khởi lên cường quốc Phù Nam, là cường quốc đầu tiên ở Đông Nam Á, lan rộng tới Lào, Quảng Nam về phương Bắc, bao cả miền Nam Việt Nam và Cao Miên bây giờ, lan sang Mă Lai ngày nay. Kế tiếp vương quốc Chân Lạp bành trướng lên tới Nam Chiếu, Hạ Lào, ngang ra biển Đông cũng là một vương quốc lớn mạnh một thời.
Nền văn hóa Óc Eo, Angkor, mang dấu tích đế quốc Phù Nam, không thua sút văn hóa Trống Đồng của Việt Nam. Tuy Phù Nam suy tàn từ thế kỷ VI, Chân Lạp suy tàn từ thế kỷ XV, nhưng khí lực Cửu Long rất hùng viễn mạch trường thiên kỷ, nên đại địa này c̣n có chu kỳ hưng phát tương lai. So sánh với Đại Việt, cường quốc Phù Nam và Chân Lạp lúc thịnh thời có thể rộng lớn và qui phục nhiều tiểu quốc hơn. Đấy là nhờ khí lực long mạch Cửu Long đem lại.
Sưu tầm